Ưu tiên mua bán với ai?

Mười sáu tập đoàn, tổng công ty trực thuộc Bộ Công Thương đã thỏa thuận hợp tác ưu tiên sử dụng sản phẩm của nhau nhằm giải quyết hàng tồn kho và tháo gỡ khó khăn theo chủ trương của bộ nên các doanh nghiệp ngoài khối này không dễ chen chân vào chương trình này.
Ngành than đã được hỗ trợ nhanh chóng cho dù đã có chủ trương không khuyến khích xuất khẩu than. Trong khi đó, TKV quyết không hạ giá bán đối với các công ty trong nước. Điều này dẫn đến việc Việt Nam lần đầu tiên phải nhập khẩu 5.000 tấn than antraxit, tương đương than cám 2HG của TKV, từ thị trường Nga.
Những đặc quyền kinh doanh của ngành than không được chia sẻ với các doanh nghiệp ngoài nhà nước trong tình cảnh khó khăn chung.  Ảnh: THANH TAO
Những đặc quyền kinh doanh của ngành than không được chia sẻ với các doanh nghiệp ngoài nhà nước trong tình cảnh khó khăn chung. Ảnh: THANH TAO

Phân biệt đối xử

Tính đến 1-9 vừa qua, chỉ số tồn kho của ngành công nghiệp chế biến đã giảm xuống mức 20,4% so với cùng kỳ năm trước. Tốc độ giảm tồn kho đã hạ dần so với các tháng trước, cộng với mức tăng thấp của chỉ số sản xuất công nghiệp, cho thấy tình hình sản xuất vẫn còn nhiều khó khăn. Theo thống kê của Bộ Công Thương, đến cuối tháng 9, than tồn kho ước tính còn khoảng 8,9 triệu tấn, chỉ số sắt thép tồn kho tăng 40,6% so với cùng kỳ khiến nhiều nhà máy sản xuất cầm chừng chỉ với một phần ba công suất hiện có. Nhiều ngành khác lượng hàng tồn cũng tăng trên 20%.

Để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp lớn thuộc bộ, một lễ ký kết thỏa thuận “ưu tiên sử dụng hàng hóa” của nhau giữa 16 tập đoàn, tổng công ty thuộc bộ đã được ký hôm 10-10 ở Hà Nội. Mười một doanh nghiệp trong số này còn ký thêm các thỏa thuận hợp tác song phương, nhằm hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Ba tiêu chí ưu tiên được đưa ra là: sử dụng các loại hàng hóa máy móc trong nước sản xuất; hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng lợi ích và phù hợp với các quy định; và hợp tác theo từng lộ trình và giai đoạn cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế.

Theo ý kiến của một chuyên gia về cạnh tranh, thỏa thuận với mục tiêu “ưu tiên” sử dụng hàng hóa của nhau xét về lý không vi phạm Luật Cạnh tranh, cho dù các đối tượng tham gia thỏa thuận đều là các doanh nghiệp có vị thế “độc quyền” (điện, than) hay nhóm các tập đoàn, tổng công ty có thị phần thống lĩnh thị trường cung ứng hàng hóa. Chưa có một hợp đồng nào được chính thức ký kết sau các thỏa thuận này để có thể xem xét các điều khoản có các dấu hiệu về việc thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, bán dưới giá thành vi phạm Luật Cạnh tranh hay không.

Song xét ở một góc độ nào đó, việc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thỏa thuận ưu tiên phân chia nguồn cung hàng hóa, cung ứng dịch vụ mang tính khép kín trong nội bộ các doanh nghiệp nói trên không khác nào thỏa thuận “không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường”, loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận. Đó là điều Luật Cạnh tranh không cho phép. Bởi khó khăn trong sản xuất, tình trạng hàng tồn kho tăng cao là của cộng đồng doanh nghiệp nói chung.

Thậm chí khối doanh nghiệp ngoài nhà nước còn khó khăn hơn các doanh nghiệp thuộc bộ mà vẫn phải chấp nhận luật chơi chung của thị trường, không hề nhận được bất cứ ưu tiên hay thỏa thuận nào mang tính hỗ trợ như Bộ Công Thương dành cho doanh nghiệp trong ngành. Với một thỏa thuận dưới sự chỉ đạo của cơ quan quản lý nhà nước mà Luật Cạnh tranh không cho phép, doanh nghiệp ngoài nhà nước có quyền đặt câu hỏi về sự phân biệt đối xử giữa các thành phần doanh nghiệp của Bộ Công Thương.

Ai ưu tiên, chia sẻ cho ai?

Các doanh nghiệp ngoài nhà nước cho rằng họ không được ưu tiên hay hỗ trợ tiêu thụ, mua bán hàng hóa là có cơ sở.

Đơn cử, tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) hiện đang dẫn đầu về hàng tồn kho với số lượng than tồn tính đến đầu tháng 9 là 8,9 triệu tấn. Giá than xuất khẩu các loại hiện nay vẫn đang tiếp tục giảm vì lực cầu yếu. Để tháo gỡ khó khăn cho TKV, Chính phủ đã giảm thuế xuất khẩu cho than từ 20% (mới áp dụng được 11 tháng) xuống 10%, đồng thời đồng ý cho TKV tăng giá bán than cho ngành điện và các hộ tiêu thụ khác thêm 28-40% kể từ ngày 15-9. Chỉ tính riêng việc tăng giá bán than cho ngành điện lên 70% giá thành sản xuất, TKV đã có thể cộng vào doanh thu từ ngày 15-9 đến cuối năm thêm 600 tỉ đồng.

Ngành than đã được hỗ trợ nhanh chóng cho dù đã có chủ trương không khuyến khích xuất khẩu than (xem thêm bài Tại sao phải giảm thuế xuất khẩu than? TBKTSG số 40-2012, ra ngày 27-9-2012). Đáng nói hơn, những đặc quyền kinh doanh này không được chia sẻ với các doanh nghiệp ngoài nhà nước trong tình cảnh khó khăn chung.

Theo ông Hoàng Đức Thuận, Giám đốc Công ty cổ phần Năng lượng Hòa Phát, TKV vừa tìm mọi cách để có thể xuất khẩu được than vừa quyết không hạ giá bán đối với các công ty trong nước. Điều này dẫn đến việc Việt Nam lần đầu tiên phải nhập khẩu 5.000 tấn than antraxit (tương đương loại than cám 2HG của TKV) từ thị trường Nga. Giá than nhập về ngày 10-10 của Hòa Phát thấp hơn giá than TKV chào bán là 273.000 đồng/tấn (giá Hòa Phát nhập về cảng ngày 10-10 là 2,91 triệu đồng tấn so với giá TKV bán cho họ là 3,183 triệu đồng/tấn).

“Hiện tại giá than vẫn tiếp tục đà giảm trên thị trường thế giới. Chúng tôi đã nhiều lần đề nghị hạ giá bán để thúc đẩy hiệu quả tiêu thụ và chi phí sản xuất của hai bên nhưng TKV không đồng ý. Do vậy Hòa Phát phải nhập than về để đa dạng hóa nguồn nguyên liệu và tiết giảm giá thành sản xuất”, ông Thuận cho biết.

Và như vậy các doanh nghiệp ngoài nhà nước đã không chen được vào cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

Ông Hoàng Đức Thuận, Giám đốc Công ty cổ phần Năng lượng Hòa Phát, cho rằng nhìn vào lượng than cám 6B-8B mà TKV xuất đi khoảng 35.000 tấn/tháng (số liệu tháng 9-2012) và năng lực tiêu thụ than loại này của Hòa Phát từ 8.000-10.000 tấn/tháng thì việc tìm một tiếng nói chung giữa các doanh nghiệp trong nước là điều không khó, song điều đó đã không thực hiện được. Hiện giá than loại này TKV xuất đi thị trường Thái Lan theo các đơn hàng ký tháng 9 là 3,270 triệu đồng/tấn. Giá bán cho Hòa Phát khoảng 3,183 triệu đồng/tấn (áp dụng từ tháng 4-2012). Thoạt nhìn mức giá xuất đi cao hơn nhưng thực tế, sau khi trừ đi các loại thuế phí (xuất khẩu phải chịu thuế 20%, trong khi bán nội địa chịu thuế giá trị gia tăng 10% tính vào giá thành) thì TKV thực thu được từ bán nội địa vẫn cao hơn xuất khẩu khoảng 6,2%.

Bài viết liên quan