Công nghiệp chưa hỗ trợ nông nghiệp

Nông nghiệp đã luôn làm chỗ dựa nền tảng cho công nghiệp và dịch vụ. Thế nhưng khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam còn thấp, không phải chỉ do chất lượng giống mà còn từ trình độ quản lý kém. Trong đó, công nghệ sau thu hoạch đang được đầu tư rất thấp.
Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ
Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ

Công nghiệp và dịch vụ chưa coi trọng thị trường nông thôn

Tính từ 1986-2003, nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng trung bình với tốc độ 5,5%/năm; so với Malaysia, Indonesia, Philippines, và Thái Lan trong cùng giai đoạn lần lượt là 3,2%; 2,3%; 2,6%, và 1,9%. Chính sự tăng trưởng đều và ổn định như vậy đã góp phần xóa đói giảm nghèo thành công ở Việt Nam. Hiện nay, nhờ ứng dụng các thành tựu khoa học, năng suất lúa, bắp, khoai mì tăng gấp nhiều lần so với năm 1986. Kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt xấp xỉ 25 tỉ đô la Mỹ (2011). Từ năm 1980-2010, cơ cấu nông nghiệp đã chuyển dịch, diện tích lúa tuy giảm 180.00 héc ta, nhưng sản lượng từ 32,5 triệu tấn/năm 2000 tăng lên đến gần 36 triệu tấn/ năm 2005 và 42 triệu tấn vào năm 2011.

Nông nghiệp thực sự đã biểu hiện được lợi thế so sánh của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam là nước xuất khẩu hạt điều nhân, hồ tiêu cao nhất thế giới, xuất khẩu gạo, cà phê đứng nhì thế giới. Ngoài ra, Việt Nam đang chiếm lĩnh thị trường thế giới về thanh long; có thứ hạng cao trong xuất khẩu cá ba sa, cá tra, tôm, cao su, chè...

Nông nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ luôn làm vai trò chỗ dựa nền tảng cho công nghiệp và dịch vụ. Nhưng công nghiệp hiện vẫn chưa trở thành đầu tàu kéo nông nghiệp đi lên như quy luật chung của các nền kinh tế lành mạnh, chưa cung cấp đủ máy móc thiết bị, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y cho nông nghiệp, với nhu cầu ngày càng cao hơn. Dịch vụ hỗ trợ cho nông nghiệp chưa tương xứng với yêu cầu đổi mới. Tín dụng phục vụ nông dân nghèo còn nhiều bất cập. Trái lại, nông dân đang phải gồng mình khắc phục những hậu quả về môi trường do chất thải công nghiệp. Nhiều vùng không thể xây dựng mô hình VietGAP, GlobalGAP vì nguồn nước ngầm và nguồn nước mặt để tưới đều bị nhiễm kim loại nặng, vượt quá tiêu chuẩn cho phép.

Có thể nói công nghiệp và dịch vụ Việt Nam chưa coi thị trường nông thôn là địa bàn ưu tiên phục vụ.

Công nghệ sau thu hoạch rất yếu kém

ĐBSCL là một trong tám vùng kinh tế quan trọng, chiếm 12% diện tích đất tự nhiên, 32% diện tích đất nông nghiệp cả nước; nổi tiếng là châu thổ lớn và phì nhiêu vào bậc nhất của cả Đông Nam Á. Đặc biệt trong 20 năm đổi mới, sản xuất lúa gạo và nuôi trồng thủy sản đã phát triển rất đáng kể, đóng góp quan trọng vào mục tiêu an toàn lương thực và xuất khẩu của cả nước.

Tuy nhiên, việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp ở đây chưa đạt như mong muốn, do chưa có giải pháp đúng về thị trường nông sản. Công nghệ sau thu hoạch rất yếu kém, chưa được đầu tư đúng mức. Thất thoát sau thu hoạch trên 2 triệu tấn lúa/năm. Công nghệ chế biến nông sản để đáp ứng với yêu cầu giá trị gia tăng còn rất thấp so với các nước trong khu vực.

Nếu cơ sở hạ tầng như bến cảng, kho bãi, chợ đầu mối, giao thông nông thôn, điện... không phát triển nhanh để hỗ trợ tích cực cho nông nghiệp, nông thôn, ĐBSCL sẽ khó có thể phát huy tiềm năng lợi thế của một châu thổ phì nhiêu bậc nhất này.

Khu vực dịch vụ tăng trưởng rất chậm, tốc độ bình quân là 3,6%/năm, chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất, đời sống nông thôn, và chưa trở thành nguồn thu nhập quan trọng cho cư dân nông thôn. Đây chính là địa bàn các hoạt động sau thu hoạch, như sấy lúa, bảo quản lúa trong kho vựa, xay xát gạo, đóng bao…

Các công trình đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn đã đem lại kết quả to lớn cho sản xuất và đời sống. Thực tế chứng minh rằng: các công trình đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn được báo cáo tỷ lệ hoàn vốn ở mức rất cao, 20-30%. Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cho thấy, đầu tư vào đường sá nông thôn có thể đem lại mức lãi gấp ba lần từ sản xuất nông nghiệp, đồng thời có tác dụng rõ rệt cho công tác xóa đói giảm nghèo. Việc đầu tư này chủ yếu thành công do chính sách Nhà nước và nhân dân cùng góp vốn.

Chưa bao giờ vai trò của doanh nghiệp trở nên rõ ràng như vậy. Thông qua mô hình cánh đồng mẫu lớn, người ta càng khẳng định: nơi nào có bóng dáng của nhà kinh doanh tâm huyết, nơi đó bà con nông dân có cải tiến đáng kể thu nhập và an sinh xã hội.

Doanh nghiệp phải vào cuộc

Đầu tư sau thu hoạch không phải chỉ có dự án nhà nước, dự án quốc tế theo thông lệ. Khi dự án giảm tổn thất sau thu hoạch của DANIDA (Đan Mạch) kết thúc, tỷ lệ nông dân sấy lúa hè thu cũng giảm theo một cách thảm hại. Nông dân đang mong chờ những hành động có hiệu quả của doanh nghiệp trong đầu tư các dịch vụ sau thu hoạch, giảm thiểu thất thoát nông sản, tăng cường giá trị hạt lúa, để hạt gạo Việt Nam có thương hiệu trên thị trường quốc tế, tiếp cận thị trường bền vững hơn.

Thất thoát sau thu hoạch của ngành trồng trọt là nội dung cần được đầu tư trước mắt, có tính cấp thiết rõ ràng nhất.

Trước hết, đầu tư nghiên cứu cho khoa học công nghệ sau thu hoạch phải từ ngân sách nhà nước và đơn đặt hàng của doanh nghiệp, để có những ngân hàng kiến thức đáp ứng được yêu cầu cấp bách hiện nay (khâu phơi sấy, bảo quản, chế biến).

Kế đến, việc triển khai trên quy mô rộng phải có sự tham gia tích cực của doanh nghiệp. Hiện nay nông dân đang có mức thu nhập cực kỳ thấp và đang hứng chịu nhiều rủi ro từ ngoài đồng đến trong nhà, sân phơi, kho vựa, thị trường. Kinh nghiệm của Malaysia và Nhật Bản cho thấy: nếu không có những “elevators” (hệ thống băng chuyền) được đầu tư hiện đại, thì thất thoát sau thu hoạch của họ cũng như Việt Nam hiện nay. Các nước này có chính sách nhà nước cho vay với lãi suất ưu đãi, nguốn vốn vay dài hạn; và doanh nghiệp của họ được hình thành từ việc làm ăn hợp tác với nhau để bảo vệ quyền lợi của nông dân.

Rồi đây, những chính sách khuyến khích các doanh nghiệp có nguồn vốn lớn và kinh nghiệm sẽ phải được xác định để công nghệ sau thu hoạch Việt Nam được nâng ngang tầm với các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, và Trung Quốc.

(*) Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam



Bài viết liên quan