Con số vô hồn

TBKTSG số 18-2013 ra ngày 2-5-2013 có bài Ngồi trên trời xử án, trong đó có nhắc đến mức lãi suất cơ bản 9%/năm đã khuyến khích việc chiếm dụng vốn trong bối cảnh tranh chấp về kinh doanh đang ngày càng gia tăng. Bài viết này cho thấy con số lãi suất cơ bản chỉ còn là một con số vô nghĩa, không ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ, chẳng liên quan gì đến lãi suất huy động và cho vay trong nhiều năm qua nhưng lại đang ảnh hưởng một cách vô lý đến các giao dịch kinh tế, dân sự có liên quan đến lãi suất và thanh toán như thế nào.

Giới hạn lãi suất

Điều 476 về lãi suất, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Việc quy định lãi suất cho vay căn cứ vào lãi suất cơ bản xuất phát từ quy định tại điều 9, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997: “Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh”.

Trong nhiều năm sau đó, lãi suất cho vay của các ngân hàng được xác định xoay quanh lãi suất cơ bản. Khi đó, lãi suất cơ bản được hình thành “trên cơ sở tham khảo mức lãi suất cho vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các tổ chức tín dụng được lựa chọn” (Quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN ngày 2-8-2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước), tức là tương đương với mức lãi suất cho vay trung bình của các ngân hàng thương mại. Từ năm 2000 đến nay, lãi suất cơ bản, thấp nhất là 7% (năm 2009) và cao nhất là 14%/năm (năm 2008) tùy thuộc vào diễn biến của thị trường. Nhưng từ tháng 10-2010 đến nay, con số này đã bị “án binh bất động” ở mức 9%/năm. Và chính con số này đã trở thành thủ phạm của nhiều vấn đề liên quan đến lãi suất.

Ngân hàng vượt giới hạn

Tuy Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực từ ngày 1-1-2006, nhưng ngành ngân hàng chỉ áp dụng quy định về giới hạn lãi suất cho vay không quá 150% lãi suất cơ bản trong một thời gian ngắn. Cụ thể là bắt đầu từ ngày 19-5-2008 (theo Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16-5-2008), sau đó “thoát” dần trong một số lĩnh vực kể từ ngày 1-2-2009 (theo Thông tư số 01/2009/TT-NHNN ngày 23-1-2009) và “ly khai” hẳn giới hạn này kể từ ngày 14-4-2010 (theo Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14-4-2010).

Ngân hàng thương mại đã không còn “dây dưa” gì với con số lãi suất cơ bản cũng như giới hạn 150%. Nhưng hàng ngàn thẩm phán tòa án, hàng vạn hợp đồng kinh doanh, thương mại, hàng triệu giao kết dân sự vẫn phải dựa vào con số vô hồn đó. Lý lẽ, phải trái, đúng sai cũng đều phải bám lấy cơ sở con số lãi suất cơ bản.

Ngoài năm lĩnh vực (phát triển nông nghiệp, nông thôn; thực hiện phương án, dự án sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu; phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ và ứng dụng công nghệ cao), nếu như “tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh” thì có thể được vay vốn với lãi suất ưu đãi không quá 11%/năm, còn lại các ngân hàng thương mại có thể mặc sức cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản và cao bao nhiêu cũng vẫn được phép.

Như vậy, chỉ sau một khoảng thời gian ngắn chấp hành giới hạn lãi suất cơ bản, Ngân hàng Nhà nước đã từng bốn lần đề xuất nới rộng giới hạn lãi suất. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng đã tự tìm cách thoát khỏi “vòng kim cô” này và bỏ mặc sự khó khăn, “oan trái” cho các lĩnh vực khác.

Lĩnh vực khác vẫn phải theo

Thế là các ngân hàng thương mại đã không còn “dây dưa” gì với con số lãi suất cơ bản cũng như giới hạn 150%. Nhưng hàng ngàn thẩm phán các tòa án, hàng vạn hợp đồng kinh doanh, thương mại, hàng triệu giao kết dân sự vẫn phải dựa vào con số vô hồn đó. Lý lẽ, phải trái, đúng sai cũng đều phải bám lấy cơ sở lãi suất cơ bản.

Do lãi suất cơ bản được ấn định quá thấp, nên vay tiền ngoài ngân hàng với lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản, tức là cao hơn 13,5%/năm, là bất hợp pháp, khi có tranh chấp ra tòa sẽ bị bác bỏ, ngành thuế cũng không cho phép hạch toán vào chi phí hợp lệ, hợp pháp để tính thuế thu nhập. Rồi việc thỏa thuận mức phạt chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán quá lãi suất cơ bản, tức là quá 9%/năm cũng là trái luật.

Doanh nghiệp, cá nhân muốn vay ngân hàng thường là phải có phương án, dự án sản xuất, kinh doanh hiệu quả, khả thi, cùng với tài sản bảo đảm đầy đủ và không được phép có nợ xấu. Không đáp ứng được một trong những điều kiện đó, tức là rủi ro cao, thì nhiều khả năng là phải đi vay bên ngoài với lãi suất cao hơn. Rủi ro thấp, thì lãi suất vay ngân hàng cũng phải 13,5% trở lên (trước đây có lúc còn lên đến trên 20%/năm). Trong khi đó, rủi ro cao, nhưng lãi suất vay ngoài ngân hàng, lại chỉ được phép không quá 13,5%/năm!

Hậu quả tai hại

Giới hạn lãi suất cho vay không quá 13,5%/năm và lãi suất phạt không quá 9%/năm đã dẫn đến một hệ quả tai hại là khuyến khích việc chây ỳ trả nợ, vì càng để lâu càng có lợi về tiền bạc, hay ít ra cũng chẳng thiệt hại gì hơn việc trả đúng hạn. Như vậy, hiển nhiên là người ta sẵn sàng chà đạp mọi cam kết, coi thường phán quyết của tòa, phớt lờ mệnh lệnh của thi hành án và khinh nhờn pháp luật.

Trong quãng thời gian lãi suất huy động ngắn hạn dưới 12 tháng biến động từ 7,5-14%/năm, nhưng lãi suất cơ bản thì vẫn cứ bất biến 9%/năm. Không thể lý giải được việc để kéo dài tình trạng lãi suất cơ bản chỉ bằng một nửa lãi suất cho vay thông thường, thậm chí còn thấp hơn cả lãi suất huy động tiền gửi.

Ngân hàng Nhà nước phải chịu trách nhiệm về việc ấn định mức lãi suất cơ bản không ăn nhập với đòi hỏi chính đáng của cuộc sống. Nếu giới hạn 150% đã vô lý, thì con số 9% lãi suất cơ bản càng vô lý hơn.

Vì vậy, về lâu dài, không thể không sửa tỷ lệ 150% nói trên, nhưng trước mắt cần phải ấn định mức lãi suất cơ bản tương đương với lãi suất cho vay thông thường của các ngân hàng thương mại. Theo đó, lãi suất cơ bản trong năm ngoái là không thể thấp hơn 18% và hiện nay ít ra cũng phải là 12%. n

(*) Trọng tài viên VIAC - Công ty Luật BASICO



Bài viết liên quan