Tấm bằng đại học và lỗi văn hóa

Nhìn đám đông phụ huynh và học sinh chen chúc, vật vờ trong mùa tuyển sinh, chúng ta lại nói với nhau một câu cũ rích: có nhất thiết phải vào đại học? Thấy tỷ lệ cử nhân chính quy thất nghiệp gia tăng trong khi đó thành phần thợ lành nghề được đào tạo bài bản thì thiếu, chúng ta lại nói với nhau một điều chẳng có gì mới: có nhất thiết phải vào đại học?

“Có nhất thiết phải vào đại học?” - câu hỏi đó được lặp đi lặp lại trên báo chí, trên môi miệng những người làm giáo dục nhưng xem ra chẳng thể giải quyết được gì khi mà cái nhìn, điều kiện, cơ chế và tâm thế ứng xử của xã hội nói chung giữa một anh cử nhân và một anh thợ vẫn còn đầy bất bình đẳng.

Từ ngày xưa, người ta tôn vinh, kính trọng những dòng họ có nhiều tiến sĩ, cử nhân. Người ta xưng tụng những vùng “đất học” với những giai thoại, huyền thoại có tính hướng đạo cho cộng đồng noi theo. Những thần tượng, tấm gương hiếu học thôi thúc, tác động ý thức cộng đồng, tạo nên sự ganh đua, cạnh tranh để người người đi học, nhà nhà đỗ đạt, gương tốt lưu truyền.

Sĩ, kẻ có học, có bằng cấp được xếp đầu trong tứ dân (sĩ, nông, công, thương). Và hãy xem cũng trong cái trật tự tứ dân (thể hiện thứ tự của sự trọng vọng) trong xã hội Việt Nam truyền thống, có thể thấy thành phần “công” (thợ, nghệ nhân làm thuê...) xếp đến hạng thứ ba, còn sau cả nông (và hãy nhớ, trong thành phần nông còn ba cấp bậc khác: trung nông, bần nông, cố nông - cho thấy, thành phần “công” vẫn đứng sau “bần, cố nông”).

Dù sao thì trong đời sống xã hội nông nghiệp trọng sĩ diện hão và khinh tiền tài, kinh doanh, anh thợ, công nhân vẫn được ủi an, xếp cao hơn “phường buôn” (thương) một bậc (!?).

Xã hội ngày nay đã thay đổi, nhiều quan niệm cũ trên thực tế đã bị đảo chiều. Ví dụ, về bốn thành phần trong tứ dân trên lý thuyết đã trở nên bình đẳng hơn. Tuy nhiên, dấu vết của cái lỗi văn hóa sâu xa trong vô thức cộng đồng thì hãy còn đó. Và những dấu vết lạc hậu trong quan niệm lại được “nhấn mạnh” thêm thông qua các chính sách giáo dục cho đến cơ chế đãi ngộ mang tính thông lệ.

Một anh có trình độ đại học, về danh chính ngôn thuận, thường thì được hưởng một bậc lương theo quy định cao hơn anh thợ có trình độ cao đẳng, trung cấp cho dù anh thợ kia có chứng minh sự lành nghề tới cỡ nào; một cử nhân có cơ hội để kiếm một việc thu nhập đảm bảo thường xuyên hơn một người làm nông trong tình cảnh đất đai thu hẹp, điều kiện khí hậu biến đổi và giá cả, năng suất thất thường; các gia đình có con vào đại học thì vẫn đáng kể và tự hào với người khác hơn có con đi làm công nhân, cho dù đứa học đại học ra chưa chắc có thể có việc làm tự nuôi mình trong khi đứa làm thợ lành nghề có thể quán xuyến, lo lắng cho mình từ sớm và đôi khi còn giúp đỡ gia đình, nuôi anh em nó đi học đại học... Nói không phân biệt, nói bình đẳng, nhưng mà sĩ vẫn là sĩ. Ở trong tâm thức, sĩ vẫn đứng đầu bảng.

“Cuộc sống cần đến những phẩm chất khác nhau”, GS. Ngô Bảo Châu trả lời câu hỏi của phóng viên báo Tuổi Trẻ tại một cuộc tọa đàm giáo dục gần đây gợi lên nhiều suy nghĩ ngay giữa mùa tuyển sinh mà chúng ta đang chứng kiến đầy ngổn ngang.

Cũng trong cuộc tọa đàm trên, GS. Ngô Bảo Châu nhìn vào lịch sử văn hóa giáo dục, cho rằng: “Có lẽ tàn dư của tư tưởng say sưa bằng cấp của xã hội phong kiến dẫn đến trong xã hội ta, tất cả mọi người đều mong muốn vào đại học, có bằng cấp đại học. Đấy là vấn đề có nhiều cách nghĩ khác nhau. Đối với cá nhân tôi, tôi cho rằng mỗi bạn trẻ hoàn toàn có thể có một cuộc sống, công việc có ý nghĩa, đem lại cho bạn niềm vui, niềm tự hào cho bản thân và gia đình, có ích cho xã hội mà không nhất thiết phải có bằng đại học. Xã hội cũng không nhất thiết tất cả mọi người đều phải vào đại học và có bằng đại học” (theo Tuổi Trẻ)

Nhưng, muốn thay đổi quan niệm của người dân về bằng cấp, không thể đơn thuần chỉ ra những “lỗi” quan niệm một cách lý thuyết và hô hào về sự bình đẳng suông. Sự thay đổi trên thực tế chỉ có thể diễn ra khi những hành xử, đánh giá trên thực tế đối với vấn đề nghề nghiệp, hướng nghiệp của con người trong xã hội được thay đổi, hướng tới sự bình đẳng và thực chất. Từ đó, những chế độ chính sách, đãi ngộ, hành xử đối với các thành phần nghề nghiệp cũng phải hướng vào tính hiệu quả chuyên môn, những kỹ năng cần thiết chứ không coi tấm bằng hay danh phận hão là một tiêu chí tiên quyết trong tuyển dụng.

Bài viết liên quan