ĐI TÌM giá đỡ

Theo báo cáo thanh tra giám sát sáu tháng đầu năm, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tỏ ra rất lo ngại về tính an toàn của các ngân hàng khi vốn chủ sở hữu của hệ thống ngân hàng tăng chậm, thậm chí có ngân hàng đã bị giảm vốn dưới mức quy định 3.000 tỉ đồng.

Phải chăng vốn chủ sở hữu là rào chắn chống rủi ro lớn nhất?

Không còn dễ tăng vốn chủ sở hữu

Năm 2010, Ngân hàng Việt Á có sự tăng vốn bứt phá, từ mức 1.515 tỉ đồng hồi đầu năm, đến cuối năm vốn điều lệ của ngân hàng đã tăng gần gấp đôi, lên 2.937 tỉ đồng. Sau đó, quá trình tăng vốn chững lại. Đến cuối năm 2011, vốn điều lệ của Việt Á đạt 3.098 tỉ đồng. Trong nghị quyết đại hội đồng cổ đông năm 2012, ngân hàng dự định sẽ tăng vốn lên 5.000 tỉ đồng nhưng đã không thực hiện được.

Tại cuộc họp đại hội đồng cổ đông năm nay, diễn ra hồi tháng 4 vừa qua, phương án tăng vốn lại được đưa ra lấy ý kiến, nhưng mức tăng chỉ còn 3.500 tỉ đồng và dự định sẽ được thực hiện trong quí 3. Tuy vậy, nghị quyết cũng có ghi nếu cuối năm 2013 vẫn không tăng vốn kịp thì sẽ dời sang năm 2014.

Ngân hàng Phương Nam, Nam Á và một số ngân hàng khác cũng đưa kế hoạch tăng vốn từ năm ngoái sang năm nay. Nhưng đến hiện tại, chưa có thông tin nào về việc phát hành cổ phiếu tăng vốn của các ngân hàng trên được công bố.

Xu hướng giảm vốn đã xuất hiện từ tháng 5 năm ngoái tại một số ngân hàng yếu kém. Còn đến thời điểm cuối tháng 5 năm nay, mặc dù vốn chủ sở hữu toàn hệ thống tăng nhưng tại nhiều ngân hàng, vốn vẫn giảm và rất nhiều ngân hàng có số lượng vốn tăng không đáng kể, dưới 100 tỉ đồng. Theo báo cáo nói trên, trong năm 2012, có đến 45 trong tổng số 124 tổ chức tín dụng giảm vốn chủ sở hữu, và con số này của năm tháng đầu năm là 47 tổ chức.

Việc giảm vốn chủ sở hữu của các ngân hàng do nợ xấu tăng nhanh trong các năm gần đây. Trong khi đó, kết quả kinh doanh của các ngân hàng liên tục giảm sút và khả năng tăng vốn là rất khó trong điều kiện thị trường hiện nay.

Thêm vào đó, tổng quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của toàn hệ thống đến cuối tháng 5 là 12.100 tỉ đồng, chỉ tăng được 1.200 tỉ đồng so với cuối năm 2012 và chủ yếu tăng tại các ngân hàng nước ngoài. Theo nhận định của báo cáo, có khả năng vốn chủ sở hữu sẽ tiếp tục giảm do hoạt động ngân hàng đang tiếp tục khó khăn, nợ xấu tiếp tục gia tăng.

“Sự suy giảm của vốn chủ sở hữu sẽ làm giảm khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng”, báo cáo này viết.

Chỉ nhìn sự an toàn từ tử số?

Theo báo cáo trên, khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng đang yếu đi bởi vốn chủ sở hữu giảm, vậy vốn chủ sở hữu có phải là giá đỡ chính của các ngân hàng? Theo công thức, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là tỷ số giữa vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản “có” rủi ro. Vì vậy, nếu vốn chủ sở hữu càng lớn trong khi tổng tài sản “có” rủi ro không đổi sẽ giúp các ngân hàng có CAR ở mức cao, tức là có thể yên tâm về sự an toàn tài chính. Và khi mẫu số tăng, thì vốn chủ sở hữu cũng phải tăng tương ứng để giảm thiểu rủi ro. Khi thị trường thuận lợi, ngân hàng sẽ dễ dàng thực hiện việc này.

Theo một lãnh đạo ngân hàng đã nghỉ hưu, đã từ rất lâu, tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng chỉ được chú trọng ở tử số, là vốn chủ sở hữu. Trong khi vấn đề rất quan trọng là phải làm giảm đi các tài sản có mang tính chất rủi ro cao, nhất là những tài sản lớn, nằm dưới mẫu số thì rất ít được chú ý.

Từ cuối năm 2007 đến nay, các ngân hàng đều chú trọng tăng vốn chủ sở hữu, thông qua tăng vốn điều lệ. Theo quy định tại Nghị định 141/2006/NĐ-CP đến hết năm 2011, các ngân hàng thương mại phải có vốn điều lệ trên 3.000 tỉ đồng, cũng vì vậy mà chỉ trong một năm, vốn điều lệ của Ngân hàng Việt Á đã tăng lên gấp đôi như trên để đáp ứng quy định.

Chuyên gia tài chính Lê Xuân Nghĩa đã từng tỏ ra nghi ngờ các kế hoạch tăng vốn của ngân hàng. Ông đưa ra những con số cụ thể như trong năm 2000, vốn điều lệ toàn hệ thống ngân hàng là 500 triệu đô la Mỹ, tổng tài sản 10 tỉ đô la Mỹ. Năm 2011, vốn điều lệ đã lên tới 12,5 tỉ đô la, tổng tài sản khoảng 180 tỉ đô la Mỹ, tăng đến 18 lần. Ông Nghĩa đặt câu hỏi: “Vốn ở đâu ra? Có đúng là vốn thật từ lợi nhuận để lại hay vốn từ dân?”.

Theo ông Nghĩa, tiền vẫn chủ yếu từ các ông chủ và sự sở hữu chồng chéo giúp cho các ông chủ có thể lấy vốn chỗ này, bỏ vào chỗ nọ, và sau khi đã tăng đủ vốn lại rút ra đầu tư vào chỗ khác. Nguồn gốc của tiền góp vốn không rõ ràng. Vì vậy, việc tăng vốn, nếu chỉ là vốn ảo chưa hẳn đã tốt cho hệ thống ngân hàng.

Theo vị lãnh đạo ngân hàng trên, việc tăng vốn là cần thiết cho các ngân hàng, nhưng chính sự thúc ép phải tăng trưởng nhanh đã khiến cho nhiều ngân hàng thay vì phát triển ổn định, chống đỡ được rủi ro thì rơi vào tình trạng ngược lại. Vì vốn tăng lên không đồng nghĩa với trình độ quản trị, trong đó có quản trị rủi ro, tăng lên nên không thể giúp cho tài sản có rủi ro giảm xuống. Ngược lại, trong một thời gian dài tăng trưởng tín dụng rất nóng, ngân hàng dễ dàng cho doanh nghiệp vay, kể cả khi tài sản thế chấp không đảm bảo, khiến cho giá trị tài sản có yếu tố rủi ro tăng cao.

Trao đổi với TBKTSG, Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright, từng nói “vấn đề của ngân hàng không phải là việc vốn nhiều hay ít, mà là quản trị ngân hàng ra sao. Ở nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á, vốn điều lệ của nhiều ngân hàng còn nhỏ hơn các ngân hàng thương mại của Việt Nam, nhưng họ vẫn hoạt động ổn định”.

“Việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế liên quan đến quản trị rủi ro là nguyên tắc đầu tiên mà các ngân hàng phải hướng tới khi thực hiện cải cách, nếu muốn phát triển một cách bền vững”, ông Tự Anh nói.

Bài viết liên quan